Tác giả đích thực bài thơ “nhẫn” là ai?
7:09, 11/08/2005
________________________________________
Từ lâu, tôi đã có ý định giới thiệu bài thơ “Nhẫn” của cụ cử nhân Hán học – giáo sư Tử An Trần Lê Nhân (một trong hai tác giả của cuốn sách “Cổ học tinh hoa”). Vừa rồi, đọc bài “Hội chứng mượn mồm người nổi tiếng” của tác giả Phạm Khải (Văn nghệ Công an số tháng 1 năm 2005), thấy tác giả Phạm Khải nêu hiện tượng ai đó đã gán ghép một bài thơ có đôi câu na ná bài thơ này (trong đó có những câu mang nội dung không lành mạnh) cho một vị tướng đáng kính của quân đội ta, tôi đã bị thôi thúc đến mức thấy cần phải cầm bút ngay.
Trước hết, xin nói rõ, bài thơ “Nhẫn”, nguyên tác của nó chỉ gồm có bốn câu như sau:
Có khi nhẫn để yêu thương
Có khi nhẫn để liệu đường lo toan
Có khi nhẫn để vẹn toàn
Có khi nhẫn để khỏi tàn hại nhau!
Giáo sư Trần Lê Nhân (người làng gốm sứ Bát Tràng - Hà Nội), nguyên là đốc học tỉnh Hưng Yên, vốn là bạn học thân thiết với bố tôi rồi hai ông trở thành thông gia. Từ năm 1947 đến năm 1950, cả đại gia đình giáo sư tản cư về sống ở vùng quê tôi (Mỹ Đức, Hà Đông cũ) và ở ngay nhà tôi. Mấy năm ấy, hằng ngày tất cả hai bên con cháu của hai nhà đều được giáo sư dạy học (cả chữ nho và chữ quốc ngữ). Bài thơ “Nhẫn” đã được giáo sư đem ra truyền thụ và chúng tôi cũng đã “vỡ vạc” hiểu được ý nghĩa của nó - qua sự giảng giải của thầy - ngay từ khi chúng tôi còn thơ bé nên nó đã nhập tâm và in đậm như nguyên cho đến tận bây giờ.
Cách đây mấy năm, trên tạp chí “Thế giới trong ta”, giáo sư Trần Văn Hà (người cháu, gọi giáo sư Trần Lê Nhân là bác ruột) đã kể lại rằng: Trong dịp đến chúc tết “thầy Võ - anh Văn” (Đại tướng Võ Nguyên Giáp), giáo sư Hà đã đọc để Đại tướng nghe bài thơ “Nhẫn” này với tất cả niềm kính yêu, chia sẻ… Còn Đại tướng khi nghe xong thì vẩn vơ, dáng vẻ ung dung tự tại, trầm ngâm. Tôi vẫn còn nhớ cảm xúc của tôi lúc ấy khi đọc đến đoạn này, lòng tôi bỗng bồi hồi xao xuyến lạ thường, thành niềm xúc động rưng rưng…
Có lẽ vì thế mà ai đó (do đọc lướt qua và nhớ không rành) nên đã ngộ nhận Đại tướng là tác giả của bài thơ này chăng? Để rồi cũng từ cái nhầm lẫn ấy mà “dân gian” mà thêm thắt, mà “nối nhời” làm cho nó sai lệch hẳn đi.
Vừa qua, tôi có đến thăm giáo sư Trần Văn Hà, trong khi ngồi chờ ở phòng khách, tôi đã thấy bài thơ này được đúc nổi trên nền sứ màu, trông thật đẹp. Chỉ có điều là không ghi tên tác giả. Khi nghe tôi kể những kỷ niệm đẹp thuở thiếu thời của tôi về bài thơ, giáo sư Hà cũng rất vui và cho biết: Giáo sư đã thấy ở nhiều nơi người ta đã kẻ - vẽ - viết rất trang trọng bài thơ trên vải lụa, trên bảng gỗ và ai nấy cũng cứ đinh ninh đấy là của… Đại tướng. Giáo sư Hà có đính chính tác giả nhưng nhiều người vẫn… phân vân. Rất may là sự “trưng bày” ấy vẫn đúng như nguyên tác, nên dù có sự ngộ nhận về tác giả thì cũng không phải là vấn đề gì lớn. Nhưng đến mức như “Bài thơ 22 câu có tới 16 chữ nhẫn” (mà trên báo đã cho in kèm để phân tích, phê phán) thì đó đích thị là một bài “Nhẫn”… giả mạo, hay đúng hơn là của những kẻ cơ hội muốn “mượn mồm” những người nổi tiếng để tuyên truyền cho lối sống ích kỷ, vụ lợi của mình như tác giả Phạm Khải đã tỉnh táo chỉ ra. Một “bài thơ” đã bị “mở rộng” rất tùy tiện và thất thố như thế; đúng hơn là nó đã bị xuyên tạc đi mà người ta lại dám gán ghép là của một vị Đại tướng đáng kính của quân đội ta thì đó là điều không thể chấp nhận được.
Cuối cùng, tôi xin được thưa thêm:
Nguyên tác của bài thơ “Nhẫn” đưa ra 4 trường hợp điển hình: "Có khi…" với những trạng thái và cung bậc khác nhau trong đối nhân xử thế, sao cho thích hợp và thỏa đáng xoay quanh cái sự “nhẫn” ở đời. Nếu đọc kỹ, thẩm định và suy ngẫm chúng ta sẽ thấy hết cái thâm thúy, thấu đáo và chuẩn mực mang đậm tính nhân văn mà bài thơ muốn chuyển tải đến người đọc.
Nếu được Ban biên tập cho phép, tôi sẽ xin được mạo muội “múa rìu qua mắt thợ” trong một bài viết khác
Nguyễn Thái Bình (Xã Lê Thanh, huyện Mỹ Đức, Hà Tây)
Thứ Ba, 15 tháng 2, 2011
Về các bài thơ hay của Nguyễn Long
Xin giới thiệu với các bạn 1 số bài thơ hay của tác giả Nguyễn Long ở Thái Bình
MAI BẠN VỀ HƯU
Chia tay mai bạn về hưu
Con tàu đã cập bến chiều neo buông
Qua rồi sóng cả đại dương
Hết rồi lồng lộng bốn phương đất trời.
Thế là bạn đã sáu mươi
(Dẫu là thánh cũng có thời già nua)
Một đời trăm chuyện được thua
Ngoảnh nhìn chớp mắt ngỡ vừa nằm mơ.
Mai về bạn chớ ngẩn ngơ
Nãy còn ấn kiếm, bây giờ thường dân
Chẳng xe đưa đón tận sân
Không còn thuộc hạ tụ quần ngoài trong.
Từ mai ngõ sạch cửa thông
Những phường cơ hội sẽ không tới nhà
Bè “hờ” bạn “rởm” lảng xa
Ngày còn nhiều gió trăng qua với mình.
VỀ LÀNG
Dẫu đi cuối đất cùng trời
Về làng ta vẫn là người nhà quê
Vẫn màu cỏ mướt chân đê
Tự thời chân đất nón mê đến giờ.
Đã qua trăm bến ngàn bờ
Giờ về bến nước tuổi thơ vẫn đày
Bao mùa mưa giật bão dây
Cánh cò trắng muốt còn bay ngang đầu.
Trăm lần triết lý nông sâu
Cũng không mua nổi một câu thật thà
Mây tìm về phía trời xa
Ta bơi ngược gió nhận ra đường làng.
THÍM TÔI
Suốt đời quần mảnh áo manh
Thím tôi lúc chết bỗng thành giầu sang
Đám ma rắc bạc rắc vàng
Kiệu son cờ gấm đưa ngang trời chiều.
Tấm thân còm cõi liêu xiêu
Mà đi qua hết mọi điều khổ đau
Còn mong tới được kiếp sau
Gặp con người sống với nhau nhân từ.
Một đời nửa thực nửa hư
Buồn như mảnh gió, lành như gió đồng
Cằn khô phúc lộc nhà chồng
Trách mình phận mỏng vun trồng chẳng nên.
Thím tin có Phật, có Tiên
Bao nhiêu vận hạn ở hiền cũng qua
Quanh năm chỉ biết chợ nhà
Bao giờ chết sẽ đi xa như người...
Khổ đau à, khổ đau ơi
Cất xong một gánh phận đời nhẹ tênh
Cầu vồng bảy sắc chênh vênh
Mây giăng chín nhịp gập ghềnh thím qua.
BẠN BÈ LÍNH TRẬN
Bạn bè lính trận ngày xưa
Xanh như cây cỏ gió mưa xá gì
Ở đâu súng nổ là đi
Ngủ trên bom đạn, mấy khi kịp buồn
Giặc tan về lại đời thường
Mỗi người riêng một con đường trời cho
Kẻ sang giàu, đứa làm to
Thằng giờ đang chạy xe bò, xe ôm
Đứa nghèo không thể nghèo hơn
Có thằng bóc lịch sớm hôm trong tù.
Ngẩng nhìn trời mới mùa thu
Mái đầu mấy đứa sương mù đã giăng
Gặp nhau hỏi chuyện từng thằng
Soi vào nhau thấu đất bằng trời xa.
Thằng về vẫn lính đến già
Đứa nằm xuống mãi mãi là cỏ cây.
THƯỜNG DÂN
Đông thì chật, ít thì thưa
Chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân
Quanh năm chân đất đầu trần
Tác tao sau những vũ vần bão giông.
Khi làm cây mác cây chông
Khi thành biển cả, khi không là gì
Thấp cao đâu có làm chi
Cỏ ngàn năm vẫn xanh rì cỏ thôi.
Ăn của đất, uống của trời
Dốc lòng cởi dạ cho người mình tin
Ồn ào mà vẫn lặng im
Mặc ai mua bán nổi chìm thiệt hơn.
Chỉ mong ấm áo no cơm
Chắt chiu dành dụm thảo thơm ngọt lành.
Hòa vào trời đất mà xanh
Vô tư mấy kiếp mới thành thường dân.
LÀNG TÔI Ở CUỐI DÒNG SÔNG
Làng tôi ở phía dòng sông
Phù sa thì đỏ, cánh đồng thì xanh
Ngàn năm hương lúa ngọt lành
Gọi con cò trắng về thành ca dao.
Làng tôi ở phía trời cao
Bóng ai cày ruộng thành sao sáng lòa
Lung linh trong dải Ngân Hà
Cái bừa con vịt vẫn nhòa nhập trôi.
Làng tôi ở phía cuộc đời
Mặn mòi nước mắt mồ hôi người làng
Có người ở chốn giầu sang
Vẫn tìm về nhận họ hàng áo nâu.
Mai dù sông chảy về đâu
Đất làng tôi vẫn một màu phù sa.
Nguyễn Long
MAI BẠN VỀ HƯU
Chia tay mai bạn về hưu
Con tàu đã cập bến chiều neo buông
Qua rồi sóng cả đại dương
Hết rồi lồng lộng bốn phương đất trời.
Thế là bạn đã sáu mươi
(Dẫu là thánh cũng có thời già nua)
Một đời trăm chuyện được thua
Ngoảnh nhìn chớp mắt ngỡ vừa nằm mơ.
Mai về bạn chớ ngẩn ngơ
Nãy còn ấn kiếm, bây giờ thường dân
Chẳng xe đưa đón tận sân
Không còn thuộc hạ tụ quần ngoài trong.
Từ mai ngõ sạch cửa thông
Những phường cơ hội sẽ không tới nhà
Bè “hờ” bạn “rởm” lảng xa
Ngày còn nhiều gió trăng qua với mình.
VỀ LÀNG
Dẫu đi cuối đất cùng trời
Về làng ta vẫn là người nhà quê
Vẫn màu cỏ mướt chân đê
Tự thời chân đất nón mê đến giờ.
Đã qua trăm bến ngàn bờ
Giờ về bến nước tuổi thơ vẫn đày
Bao mùa mưa giật bão dây
Cánh cò trắng muốt còn bay ngang đầu.
Trăm lần triết lý nông sâu
Cũng không mua nổi một câu thật thà
Mây tìm về phía trời xa
Ta bơi ngược gió nhận ra đường làng.
THÍM TÔI
Suốt đời quần mảnh áo manh
Thím tôi lúc chết bỗng thành giầu sang
Đám ma rắc bạc rắc vàng
Kiệu son cờ gấm đưa ngang trời chiều.
Tấm thân còm cõi liêu xiêu
Mà đi qua hết mọi điều khổ đau
Còn mong tới được kiếp sau
Gặp con người sống với nhau nhân từ.
Một đời nửa thực nửa hư
Buồn như mảnh gió, lành như gió đồng
Cằn khô phúc lộc nhà chồng
Trách mình phận mỏng vun trồng chẳng nên.
Thím tin có Phật, có Tiên
Bao nhiêu vận hạn ở hiền cũng qua
Quanh năm chỉ biết chợ nhà
Bao giờ chết sẽ đi xa như người...
Khổ đau à, khổ đau ơi
Cất xong một gánh phận đời nhẹ tênh
Cầu vồng bảy sắc chênh vênh
Mây giăng chín nhịp gập ghềnh thím qua.
BẠN BÈ LÍNH TRẬN
Bạn bè lính trận ngày xưa
Xanh như cây cỏ gió mưa xá gì
Ở đâu súng nổ là đi
Ngủ trên bom đạn, mấy khi kịp buồn
Giặc tan về lại đời thường
Mỗi người riêng một con đường trời cho
Kẻ sang giàu, đứa làm to
Thằng giờ đang chạy xe bò, xe ôm
Đứa nghèo không thể nghèo hơn
Có thằng bóc lịch sớm hôm trong tù.
Ngẩng nhìn trời mới mùa thu
Mái đầu mấy đứa sương mù đã giăng
Gặp nhau hỏi chuyện từng thằng
Soi vào nhau thấu đất bằng trời xa.
Thằng về vẫn lính đến già
Đứa nằm xuống mãi mãi là cỏ cây.
THƯỜNG DÂN
Đông thì chật, ít thì thưa
Chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân
Quanh năm chân đất đầu trần
Tác tao sau những vũ vần bão giông.
Khi làm cây mác cây chông
Khi thành biển cả, khi không là gì
Thấp cao đâu có làm chi
Cỏ ngàn năm vẫn xanh rì cỏ thôi.
Ăn của đất, uống của trời
Dốc lòng cởi dạ cho người mình tin
Ồn ào mà vẫn lặng im
Mặc ai mua bán nổi chìm thiệt hơn.
Chỉ mong ấm áo no cơm
Chắt chiu dành dụm thảo thơm ngọt lành.
Hòa vào trời đất mà xanh
Vô tư mấy kiếp mới thành thường dân.
LÀNG TÔI Ở CUỐI DÒNG SÔNG
Làng tôi ở phía dòng sông
Phù sa thì đỏ, cánh đồng thì xanh
Ngàn năm hương lúa ngọt lành
Gọi con cò trắng về thành ca dao.
Làng tôi ở phía trời cao
Bóng ai cày ruộng thành sao sáng lòa
Lung linh trong dải Ngân Hà
Cái bừa con vịt vẫn nhòa nhập trôi.
Làng tôi ở phía cuộc đời
Mặn mòi nước mắt mồ hôi người làng
Có người ở chốn giầu sang
Vẫn tìm về nhận họ hàng áo nâu.
Mai dù sông chảy về đâu
Đất làng tôi vẫn một màu phù sa.
Nguyễn Long
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)