hangdungngocha
Thứ Hai, 30 tháng 10, 2017
Thứ Năm, 12 tháng 10, 2017
THĂM BẠN VỀ HƯU của Đặng Hấn
Sau khi đăng loạt bài về hưu trí, tôi nhận thấy: Có vẻ như là chủ đề HƯU trong thơ ca được nhiều người quan tâm. Nay tôi trình làng thêm bài này hầu quý vị đọc chơi - ND
==================================================
Nhà thơ Đặng Hấn
Thứ Tư, 09/09/2015 10:30 GMT +7
Vũ Bình Lục
Nhà thơ Đặng Hấn sinh năm 1942 tại Kiến Xương, Thái Bình, hiện nghỉ hưu tại hành phố Sài gòn, sau nhiều năm dạy toán đại học ở đây. Tuy là thấy dạy toán nhưng ông lại làm thơ hay, nhất là viết cho thiếu nhi. Ông còn có cả thơ hay viết cho người lớn. Thơ Đặng Hấn giản dị, chân tình, nhưng cũng không kém phần sâu sắc...VBL trân trọng giới thiệu một trong những bài thơ hay của nhà thơ Đặng Hấn, bài THĂM BẠN VỀ HƯU...
NHÀ THƠ ĐẶNG HẤN THĂM BẠN VỀ HƯU
(Về bài thơ Thăm bạn về hưu của Đặng Hấn)
THĂM BẠN VỀ HƯU
Học cùng trường lại cùng quê
Hơn ta mấy tuổi, bạn về nghỉ hưu
Mới qua điện réo chuông reo
Nay mong ngóng chỉ tiếng kêu ve sầu
Danh ngôn Tây, Sử ký Tàu
Tuổi đời mới thấm nông sâu trò đời!
Mấy năm trước định ghé chơi
Lại e bạn bận, đâu ngồi được yên
Phần vì bạn có chức quyền
Đến chơi ngại tưởng đến phiền lụy chi!
Nghe đâu năm trước Tết về
Phải thuê người đến giữ xe trước nhà
Năm nay tết vắng màu hoa
Mảnh sân biếng chà xanh một màu rêu
Bạn đùa, vẻ mặt buồn thiu
Hiu là hiu hắt, quạnh hiu đấy mà!
Có ai trẻ mãi không già
Ngẫm cơ sự bạn mà ta rùng mình!
Giáo sư Đặng Hấn là nhà thơ dạy toán. Ông là thầy dạy toán Đại học chính hiệu ở Sài –gòn. Thái Bình là quê gốc, nhưng ông sống chủ yếu ở Sài-gòn, kể từ khi nước non liền một dải. Nhà thơ-Nhà giáo Đặng Hấn viết nhiều và viết rất hay cho thiếu nhi, nhưng không phải là không có thơ hay cho người lớn. “Thăm bạn về hưu” là một bài thơ thể lục bát viết về bạn, một người bạn lớn tuổi hơn tác giả, nhưng lại học cùng trường, cùng quê, cho nên cũng rất thân tình.
Bởi là bạn lớn tuổi hơn, nên bạn về hưu rồi mà tác giả thì chưa đến cái đoạn “hiu hắt” ấy của cuộc đời. Đó chính là căn cớ để tạo nên “cơ sự” cho tứ thơ. Tác giả kể: “Học cùng trường lại cùng quê / Hơn ta mấy tuổi, bạn về nghỉ hưu / Mới qua điện réo chuông reo / Nay mong ngóng chỉ tiếng kêu ve sầu”…Sao vậy? Là vì công việc bận quá, nên chả thấy bạn điện thoại thăm hỏi như trước nữa chăng? Hay là bạn đã quên mình rồi, vì địa vị xã hội, vì “đẳng cấp” quyền lực hay là sự sang giàu đã thay đổi rồi chăng? Vắng bặt tăm hơi, chỉ còn nghe thấy tiếng những con ve sầu kêu nhão cả mùa hè...Tiếp đó là chiêm nghiệm:
Danh ngôn Tây, Sử ký Tàu
Tuổi đời mới thấm nông sâu trò đời!
Đọc sách Tây sách Tàu, rồi danh ngôn nọ phương ngôn kia, mới vỡ ra nhiều điều bấy lâu tưởng đã cũ mèm. Vỡ lẽ rồi thì ngâm ngợi, rồi chiêm nghiệm và triết lý. Một triết lý chả mới mẻ gì, nhưng cái cảm giác “Tuổi đời mới thấm nông sâu trò đời” thì không phải ai, không phải ở tuổi nào cũng thấm thía được cái sự thật tưởng như đơn giản ấy. Tuổi trẻ có thể biết vậy, qua sách vở kim cổ Đông Tây, nhưng chỉ đến khi có “tuổi đời”, tuổi cao, đã đứng ở phía bên kia của đỉnh dốc cuộc đời, mới thấm cái sự đời, cái “trò đời” nông sâu và cũng lắm nhiêu khê đến thế!
Trên đây là kể khái quát, và luận bàn cũng ở mức khái quát. Tiếp theo là kể cụ thể hơn, chi tiết hơn. Và bàn luận cũng sâu hơn. Hai cảnh đời được kể, dựng lên một sự đối lập hoàn toàn. Anh bạn làm “quan” đời mới, có chức có quyền và đương nhiên có tiền, nên nhiều kẻ cậy nhờ. Cửa nhà quan rộng rãi quanh năm tấp nập xôn xao, việc công thì ít việc tư bận nhiều, đến như tác giả là bạn cũ bạn thân cũng cảm thấy ngại vào chơi thăm hỏi. Dẫu là chân tình, nhưng người ta lại dễ hiểu lầm thành ra bạn cũ đến xin xỏ nhờ vả phiền phức gì chăng. Có thể là bạn cũng không nghĩ thế, nhưng thi nhân lại có cái cảm giác ấy, có mặc cảm ấy, cũng là sự thường tình, chẳng có ai đáng trách. Kẻ viết bài này, khi còn váng vất tha phương ở nơi núi rừng xa xôi, mỗi khi có dịp về Hà Nội, muốn ghé thăm bạn cũ hồi còn hàn vi, nhưng vân vi mãi rồi lại thôi. “Lâu rồi / nay lại về với phố / phố đông / mà lạc giữa không người / nhà cao / chẳng thấy trời xanh nữa / bạn cũ sang giàu / ngại tới chơi” (Về phố), hoặc “Cổng nhà bạn cao hơn / chó dữ / ngại vào”…
Còn thi nhân Đặng Hấn thì viết: “Nghe đâu năm trước tết về / Phải thuê người đến giữ xe trước nhà / năm nay tết vắng màu hoa / Mảnh sân biếng chà xanh một màu rêu”…Chữ “Nghe đâu” rất khéo, nửa thực, nửa hư, chỉ là tiếng gió, là tin đồn. Năm trước còn làm quan, kẻ đưa người đón. Tết về thì của nả cũng kìn kìn kéo nhau về, xe pháo sang trọng đỗ chật cả đường làng, ngõ phố, phải thuê người trông giữ. Thật là “Thớt có tanh tao ruồi đỗ đến / Gang không mật mỡ kiến bò chi!” (Nguyễn Bỉnh Khiêm). Cái sự đời xưa vậy, mà nay cũng thế. Nhưng mà năm nay thì khác, thôi làm quan rồi, thì “tết vắng màu hoa / mảnh sân biếng chà xanh một màu rêu”, chẳng thấy có ma nào đến cả! Sự đời là vậy. Thói đời là vậy! Đành ngồi mà than thở:
Bạn đùa, vẻ mặt buồn thiu
Hưu là hiu hắt, quạnh hiu đấy mà!
Đành rằng thảm cảnh này không phải là quy luật chung cho tất cả, nhưng sự đời là vậy, vốn thường như vậy. Buồn cho bạn, thương cho bạn, lại nghĩ đến mình cũng sắp sửa hưu đây, bất giác, thi sỹ buông lời chua chát: “Có ai trẻ mãi không già / Ngẫm cơ sự bạn mà ta rùng mình”… Đấy là một cái rùng mình hợp lý, cũng là để kết thúc bài thơ, mà mở ra rất nhiều nghĩ ngợi.Thơ chỉ thiên về kể chuyện, chân thật hoàn toàn, tịnh không hề thấy sự làm duyên làm dáng. Đặng Hấn kể chuyện thật như đùa, cười không ra tiếng, cười như mếu. Đó cũng là một “tính cách” của tài năng!
============================================
Ý kiến của Ngọc Dũng – 12/10/2017:
“Học cùng trường lại cùng quê
Hơn ta mấy tuổi, bạn về nghỉ hưu
Mới qua điện réo chuông reo
Nay mong ngóng chỉ tiếng kêu ve sầu
Danh ngôn Tây, Sử ký Tàu
Tuổi đời mới thấm nông sâu trò đời!”
06 câu đầu (như trên) đã được Đặng Hấn sửa sau này từ nguyên bản ban đầu là:
Học cùng trường lại cùng quê
Hơn ta mấy tuổi, bạn về nghỉ hưu
Quẩn quanh báo sớm, trà chiều
Ngóng chuông reo, chỉve kêu trước mành…
Mấy năm lo họp với hành
Lúc về muốn bạn tâm tình tìm đâu?
Danh ngôn Tây, Sử ký Tàu
Đọc thông Tam Quốc, thuộc làu Đông Chu!
Kế thâm, mưu ác, kẻ thù…
Mới hay, rặt chuyện phù du một thời…
Tiếp đến cả đoạn cuối:
Mấy năm trước định ghé chơi
Lại e bạn bận, đâu ngồi được yên
………………………………………………
Toàn bài ban đầu là:
THĂM BẠN VỀ HƯU
Học cùng trường lại cùng quê
Hơn ta mấy tuổi, bạn về nghỉ hưu
Quẩn quanh báo sớm, trà chiều
Ngóng chuông reo, chỉve kêu trước mành…
Mấy năm lo họp với hành
Lúc về muốn bạn tâm tình tìm đâu?
Danh ngôn Tây, Sử ký Tàu
Đọc thông Tam Quốc, thuộc làu Đông Chu!
Kế thâm, mưu ác, kẻ thù…
Mới hay, rặt chuyện phù du một thời…
Mấy năm trước định ghé chơi
Lại e bạn bận, đâu ngồi được yên
Phần vì bạn có chức quyền
Đến chơi ngại tưởng đến phiền lụy chi!
Nghe đâu năm trước Tết về
Phải thuê người đến giữ xe trước nhà
Năm nay tết vắng màu hoa
Mảnh sân biếng chà xanh một màu rêu
Bạn đùa, vẻ mặt buồn thiu
Hiu là hiu hắt, quạnh hiu đấy mà!
Có ai trẻ mãi không già
Ngẫm cơ sự bạn mà ta rùng mình!
Đặng Hấn
Thứ Bảy, 26 tháng 12, 2015
Thứ Ba, 15 tháng 2, 2011
Về tác giả đích thực của bài thơ " Nhẫn" là ai?
Tác giả đích thực bài thơ “nhẫn” là ai?
7:09, 11/08/2005
________________________________________
Từ lâu, tôi đã có ý định giới thiệu bài thơ “Nhẫn” của cụ cử nhân Hán học – giáo sư Tử An Trần Lê Nhân (một trong hai tác giả của cuốn sách “Cổ học tinh hoa”). Vừa rồi, đọc bài “Hội chứng mượn mồm người nổi tiếng” của tác giả Phạm Khải (Văn nghệ Công an số tháng 1 năm 2005), thấy tác giả Phạm Khải nêu hiện tượng ai đó đã gán ghép một bài thơ có đôi câu na ná bài thơ này (trong đó có những câu mang nội dung không lành mạnh) cho một vị tướng đáng kính của quân đội ta, tôi đã bị thôi thúc đến mức thấy cần phải cầm bút ngay.
Trước hết, xin nói rõ, bài thơ “Nhẫn”, nguyên tác của nó chỉ gồm có bốn câu như sau:
Có khi nhẫn để yêu thương
Có khi nhẫn để liệu đường lo toan
Có khi nhẫn để vẹn toàn
Có khi nhẫn để khỏi tàn hại nhau!
Giáo sư Trần Lê Nhân (người làng gốm sứ Bát Tràng - Hà Nội), nguyên là đốc học tỉnh Hưng Yên, vốn là bạn học thân thiết với bố tôi rồi hai ông trở thành thông gia. Từ năm 1947 đến năm 1950, cả đại gia đình giáo sư tản cư về sống ở vùng quê tôi (Mỹ Đức, Hà Đông cũ) và ở ngay nhà tôi. Mấy năm ấy, hằng ngày tất cả hai bên con cháu của hai nhà đều được giáo sư dạy học (cả chữ nho và chữ quốc ngữ). Bài thơ “Nhẫn” đã được giáo sư đem ra truyền thụ và chúng tôi cũng đã “vỡ vạc” hiểu được ý nghĩa của nó - qua sự giảng giải của thầy - ngay từ khi chúng tôi còn thơ bé nên nó đã nhập tâm và in đậm như nguyên cho đến tận bây giờ.
Cách đây mấy năm, trên tạp chí “Thế giới trong ta”, giáo sư Trần Văn Hà (người cháu, gọi giáo sư Trần Lê Nhân là bác ruột) đã kể lại rằng: Trong dịp đến chúc tết “thầy Võ - anh Văn” (Đại tướng Võ Nguyên Giáp), giáo sư Hà đã đọc để Đại tướng nghe bài thơ “Nhẫn” này với tất cả niềm kính yêu, chia sẻ… Còn Đại tướng khi nghe xong thì vẩn vơ, dáng vẻ ung dung tự tại, trầm ngâm. Tôi vẫn còn nhớ cảm xúc của tôi lúc ấy khi đọc đến đoạn này, lòng tôi bỗng bồi hồi xao xuyến lạ thường, thành niềm xúc động rưng rưng…
Có lẽ vì thế mà ai đó (do đọc lướt qua và nhớ không rành) nên đã ngộ nhận Đại tướng là tác giả của bài thơ này chăng? Để rồi cũng từ cái nhầm lẫn ấy mà “dân gian” mà thêm thắt, mà “nối nhời” làm cho nó sai lệch hẳn đi.
Vừa qua, tôi có đến thăm giáo sư Trần Văn Hà, trong khi ngồi chờ ở phòng khách, tôi đã thấy bài thơ này được đúc nổi trên nền sứ màu, trông thật đẹp. Chỉ có điều là không ghi tên tác giả. Khi nghe tôi kể những kỷ niệm đẹp thuở thiếu thời của tôi về bài thơ, giáo sư Hà cũng rất vui và cho biết: Giáo sư đã thấy ở nhiều nơi người ta đã kẻ - vẽ - viết rất trang trọng bài thơ trên vải lụa, trên bảng gỗ và ai nấy cũng cứ đinh ninh đấy là của… Đại tướng. Giáo sư Hà có đính chính tác giả nhưng nhiều người vẫn… phân vân. Rất may là sự “trưng bày” ấy vẫn đúng như nguyên tác, nên dù có sự ngộ nhận về tác giả thì cũng không phải là vấn đề gì lớn. Nhưng đến mức như “Bài thơ 22 câu có tới 16 chữ nhẫn” (mà trên báo đã cho in kèm để phân tích, phê phán) thì đó đích thị là một bài “Nhẫn”… giả mạo, hay đúng hơn là của những kẻ cơ hội muốn “mượn mồm” những người nổi tiếng để tuyên truyền cho lối sống ích kỷ, vụ lợi của mình như tác giả Phạm Khải đã tỉnh táo chỉ ra. Một “bài thơ” đã bị “mở rộng” rất tùy tiện và thất thố như thế; đúng hơn là nó đã bị xuyên tạc đi mà người ta lại dám gán ghép là của một vị Đại tướng đáng kính của quân đội ta thì đó là điều không thể chấp nhận được.
Cuối cùng, tôi xin được thưa thêm:
Nguyên tác của bài thơ “Nhẫn” đưa ra 4 trường hợp điển hình: "Có khi…" với những trạng thái và cung bậc khác nhau trong đối nhân xử thế, sao cho thích hợp và thỏa đáng xoay quanh cái sự “nhẫn” ở đời. Nếu đọc kỹ, thẩm định và suy ngẫm chúng ta sẽ thấy hết cái thâm thúy, thấu đáo và chuẩn mực mang đậm tính nhân văn mà bài thơ muốn chuyển tải đến người đọc.
Nếu được Ban biên tập cho phép, tôi sẽ xin được mạo muội “múa rìu qua mắt thợ” trong một bài viết khác
Nguyễn Thái Bình (Xã Lê Thanh, huyện Mỹ Đức, Hà Tây)
7:09, 11/08/2005
________________________________________
Từ lâu, tôi đã có ý định giới thiệu bài thơ “Nhẫn” của cụ cử nhân Hán học – giáo sư Tử An Trần Lê Nhân (một trong hai tác giả của cuốn sách “Cổ học tinh hoa”). Vừa rồi, đọc bài “Hội chứng mượn mồm người nổi tiếng” của tác giả Phạm Khải (Văn nghệ Công an số tháng 1 năm 2005), thấy tác giả Phạm Khải nêu hiện tượng ai đó đã gán ghép một bài thơ có đôi câu na ná bài thơ này (trong đó có những câu mang nội dung không lành mạnh) cho một vị tướng đáng kính của quân đội ta, tôi đã bị thôi thúc đến mức thấy cần phải cầm bút ngay.
Trước hết, xin nói rõ, bài thơ “Nhẫn”, nguyên tác của nó chỉ gồm có bốn câu như sau:
Có khi nhẫn để yêu thương
Có khi nhẫn để liệu đường lo toan
Có khi nhẫn để vẹn toàn
Có khi nhẫn để khỏi tàn hại nhau!
Giáo sư Trần Lê Nhân (người làng gốm sứ Bát Tràng - Hà Nội), nguyên là đốc học tỉnh Hưng Yên, vốn là bạn học thân thiết với bố tôi rồi hai ông trở thành thông gia. Từ năm 1947 đến năm 1950, cả đại gia đình giáo sư tản cư về sống ở vùng quê tôi (Mỹ Đức, Hà Đông cũ) và ở ngay nhà tôi. Mấy năm ấy, hằng ngày tất cả hai bên con cháu của hai nhà đều được giáo sư dạy học (cả chữ nho và chữ quốc ngữ). Bài thơ “Nhẫn” đã được giáo sư đem ra truyền thụ và chúng tôi cũng đã “vỡ vạc” hiểu được ý nghĩa của nó - qua sự giảng giải của thầy - ngay từ khi chúng tôi còn thơ bé nên nó đã nhập tâm và in đậm như nguyên cho đến tận bây giờ.
Cách đây mấy năm, trên tạp chí “Thế giới trong ta”, giáo sư Trần Văn Hà (người cháu, gọi giáo sư Trần Lê Nhân là bác ruột) đã kể lại rằng: Trong dịp đến chúc tết “thầy Võ - anh Văn” (Đại tướng Võ Nguyên Giáp), giáo sư Hà đã đọc để Đại tướng nghe bài thơ “Nhẫn” này với tất cả niềm kính yêu, chia sẻ… Còn Đại tướng khi nghe xong thì vẩn vơ, dáng vẻ ung dung tự tại, trầm ngâm. Tôi vẫn còn nhớ cảm xúc của tôi lúc ấy khi đọc đến đoạn này, lòng tôi bỗng bồi hồi xao xuyến lạ thường, thành niềm xúc động rưng rưng…
Có lẽ vì thế mà ai đó (do đọc lướt qua và nhớ không rành) nên đã ngộ nhận Đại tướng là tác giả của bài thơ này chăng? Để rồi cũng từ cái nhầm lẫn ấy mà “dân gian” mà thêm thắt, mà “nối nhời” làm cho nó sai lệch hẳn đi.
Vừa qua, tôi có đến thăm giáo sư Trần Văn Hà, trong khi ngồi chờ ở phòng khách, tôi đã thấy bài thơ này được đúc nổi trên nền sứ màu, trông thật đẹp. Chỉ có điều là không ghi tên tác giả. Khi nghe tôi kể những kỷ niệm đẹp thuở thiếu thời của tôi về bài thơ, giáo sư Hà cũng rất vui và cho biết: Giáo sư đã thấy ở nhiều nơi người ta đã kẻ - vẽ - viết rất trang trọng bài thơ trên vải lụa, trên bảng gỗ và ai nấy cũng cứ đinh ninh đấy là của… Đại tướng. Giáo sư Hà có đính chính tác giả nhưng nhiều người vẫn… phân vân. Rất may là sự “trưng bày” ấy vẫn đúng như nguyên tác, nên dù có sự ngộ nhận về tác giả thì cũng không phải là vấn đề gì lớn. Nhưng đến mức như “Bài thơ 22 câu có tới 16 chữ nhẫn” (mà trên báo đã cho in kèm để phân tích, phê phán) thì đó đích thị là một bài “Nhẫn”… giả mạo, hay đúng hơn là của những kẻ cơ hội muốn “mượn mồm” những người nổi tiếng để tuyên truyền cho lối sống ích kỷ, vụ lợi của mình như tác giả Phạm Khải đã tỉnh táo chỉ ra. Một “bài thơ” đã bị “mở rộng” rất tùy tiện và thất thố như thế; đúng hơn là nó đã bị xuyên tạc đi mà người ta lại dám gán ghép là của một vị Đại tướng đáng kính của quân đội ta thì đó là điều không thể chấp nhận được.
Cuối cùng, tôi xin được thưa thêm:
Nguyên tác của bài thơ “Nhẫn” đưa ra 4 trường hợp điển hình: "Có khi…" với những trạng thái và cung bậc khác nhau trong đối nhân xử thế, sao cho thích hợp và thỏa đáng xoay quanh cái sự “nhẫn” ở đời. Nếu đọc kỹ, thẩm định và suy ngẫm chúng ta sẽ thấy hết cái thâm thúy, thấu đáo và chuẩn mực mang đậm tính nhân văn mà bài thơ muốn chuyển tải đến người đọc.
Nếu được Ban biên tập cho phép, tôi sẽ xin được mạo muội “múa rìu qua mắt thợ” trong một bài viết khác
Nguyễn Thái Bình (Xã Lê Thanh, huyện Mỹ Đức, Hà Tây)
Về các bài thơ hay của Nguyễn Long
Xin giới thiệu với các bạn 1 số bài thơ hay của tác giả Nguyễn Long ở Thái Bình
MAI BẠN VỀ HƯU
Chia tay mai bạn về hưu
Con tàu đã cập bến chiều neo buông
Qua rồi sóng cả đại dương
Hết rồi lồng lộng bốn phương đất trời.
Thế là bạn đã sáu mươi
(Dẫu là thánh cũng có thời già nua)
Một đời trăm chuyện được thua
Ngoảnh nhìn chớp mắt ngỡ vừa nằm mơ.
Mai về bạn chớ ngẩn ngơ
Nãy còn ấn kiếm, bây giờ thường dân
Chẳng xe đưa đón tận sân
Không còn thuộc hạ tụ quần ngoài trong.
Từ mai ngõ sạch cửa thông
Những phường cơ hội sẽ không tới nhà
Bè “hờ” bạn “rởm” lảng xa
Ngày còn nhiều gió trăng qua với mình.
VỀ LÀNG
Dẫu đi cuối đất cùng trời
Về làng ta vẫn là người nhà quê
Vẫn màu cỏ mướt chân đê
Tự thời chân đất nón mê đến giờ.
Đã qua trăm bến ngàn bờ
Giờ về bến nước tuổi thơ vẫn đày
Bao mùa mưa giật bão dây
Cánh cò trắng muốt còn bay ngang đầu.
Trăm lần triết lý nông sâu
Cũng không mua nổi một câu thật thà
Mây tìm về phía trời xa
Ta bơi ngược gió nhận ra đường làng.
THÍM TÔI
Suốt đời quần mảnh áo manh
Thím tôi lúc chết bỗng thành giầu sang
Đám ma rắc bạc rắc vàng
Kiệu son cờ gấm đưa ngang trời chiều.
Tấm thân còm cõi liêu xiêu
Mà đi qua hết mọi điều khổ đau
Còn mong tới được kiếp sau
Gặp con người sống với nhau nhân từ.
Một đời nửa thực nửa hư
Buồn như mảnh gió, lành như gió đồng
Cằn khô phúc lộc nhà chồng
Trách mình phận mỏng vun trồng chẳng nên.
Thím tin có Phật, có Tiên
Bao nhiêu vận hạn ở hiền cũng qua
Quanh năm chỉ biết chợ nhà
Bao giờ chết sẽ đi xa như người...
Khổ đau à, khổ đau ơi
Cất xong một gánh phận đời nhẹ tênh
Cầu vồng bảy sắc chênh vênh
Mây giăng chín nhịp gập ghềnh thím qua.
BẠN BÈ LÍNH TRẬN
Bạn bè lính trận ngày xưa
Xanh như cây cỏ gió mưa xá gì
Ở đâu súng nổ là đi
Ngủ trên bom đạn, mấy khi kịp buồn
Giặc tan về lại đời thường
Mỗi người riêng một con đường trời cho
Kẻ sang giàu, đứa làm to
Thằng giờ đang chạy xe bò, xe ôm
Đứa nghèo không thể nghèo hơn
Có thằng bóc lịch sớm hôm trong tù.
Ngẩng nhìn trời mới mùa thu
Mái đầu mấy đứa sương mù đã giăng
Gặp nhau hỏi chuyện từng thằng
Soi vào nhau thấu đất bằng trời xa.
Thằng về vẫn lính đến già
Đứa nằm xuống mãi mãi là cỏ cây.
THƯỜNG DÂN
Đông thì chật, ít thì thưa
Chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân
Quanh năm chân đất đầu trần
Tác tao sau những vũ vần bão giông.
Khi làm cây mác cây chông
Khi thành biển cả, khi không là gì
Thấp cao đâu có làm chi
Cỏ ngàn năm vẫn xanh rì cỏ thôi.
Ăn của đất, uống của trời
Dốc lòng cởi dạ cho người mình tin
Ồn ào mà vẫn lặng im
Mặc ai mua bán nổi chìm thiệt hơn.
Chỉ mong ấm áo no cơm
Chắt chiu dành dụm thảo thơm ngọt lành.
Hòa vào trời đất mà xanh
Vô tư mấy kiếp mới thành thường dân.
LÀNG TÔI Ở CUỐI DÒNG SÔNG
Làng tôi ở phía dòng sông
Phù sa thì đỏ, cánh đồng thì xanh
Ngàn năm hương lúa ngọt lành
Gọi con cò trắng về thành ca dao.
Làng tôi ở phía trời cao
Bóng ai cày ruộng thành sao sáng lòa
Lung linh trong dải Ngân Hà
Cái bừa con vịt vẫn nhòa nhập trôi.
Làng tôi ở phía cuộc đời
Mặn mòi nước mắt mồ hôi người làng
Có người ở chốn giầu sang
Vẫn tìm về nhận họ hàng áo nâu.
Mai dù sông chảy về đâu
Đất làng tôi vẫn một màu phù sa.
Nguyễn Long
MAI BẠN VỀ HƯU
Chia tay mai bạn về hưu
Con tàu đã cập bến chiều neo buông
Qua rồi sóng cả đại dương
Hết rồi lồng lộng bốn phương đất trời.
Thế là bạn đã sáu mươi
(Dẫu là thánh cũng có thời già nua)
Một đời trăm chuyện được thua
Ngoảnh nhìn chớp mắt ngỡ vừa nằm mơ.
Mai về bạn chớ ngẩn ngơ
Nãy còn ấn kiếm, bây giờ thường dân
Chẳng xe đưa đón tận sân
Không còn thuộc hạ tụ quần ngoài trong.
Từ mai ngõ sạch cửa thông
Những phường cơ hội sẽ không tới nhà
Bè “hờ” bạn “rởm” lảng xa
Ngày còn nhiều gió trăng qua với mình.
VỀ LÀNG
Dẫu đi cuối đất cùng trời
Về làng ta vẫn là người nhà quê
Vẫn màu cỏ mướt chân đê
Tự thời chân đất nón mê đến giờ.
Đã qua trăm bến ngàn bờ
Giờ về bến nước tuổi thơ vẫn đày
Bao mùa mưa giật bão dây
Cánh cò trắng muốt còn bay ngang đầu.
Trăm lần triết lý nông sâu
Cũng không mua nổi một câu thật thà
Mây tìm về phía trời xa
Ta bơi ngược gió nhận ra đường làng.
THÍM TÔI
Suốt đời quần mảnh áo manh
Thím tôi lúc chết bỗng thành giầu sang
Đám ma rắc bạc rắc vàng
Kiệu son cờ gấm đưa ngang trời chiều.
Tấm thân còm cõi liêu xiêu
Mà đi qua hết mọi điều khổ đau
Còn mong tới được kiếp sau
Gặp con người sống với nhau nhân từ.
Một đời nửa thực nửa hư
Buồn như mảnh gió, lành như gió đồng
Cằn khô phúc lộc nhà chồng
Trách mình phận mỏng vun trồng chẳng nên.
Thím tin có Phật, có Tiên
Bao nhiêu vận hạn ở hiền cũng qua
Quanh năm chỉ biết chợ nhà
Bao giờ chết sẽ đi xa như người...
Khổ đau à, khổ đau ơi
Cất xong một gánh phận đời nhẹ tênh
Cầu vồng bảy sắc chênh vênh
Mây giăng chín nhịp gập ghềnh thím qua.
BẠN BÈ LÍNH TRẬN
Bạn bè lính trận ngày xưa
Xanh như cây cỏ gió mưa xá gì
Ở đâu súng nổ là đi
Ngủ trên bom đạn, mấy khi kịp buồn
Giặc tan về lại đời thường
Mỗi người riêng một con đường trời cho
Kẻ sang giàu, đứa làm to
Thằng giờ đang chạy xe bò, xe ôm
Đứa nghèo không thể nghèo hơn
Có thằng bóc lịch sớm hôm trong tù.
Ngẩng nhìn trời mới mùa thu
Mái đầu mấy đứa sương mù đã giăng
Gặp nhau hỏi chuyện từng thằng
Soi vào nhau thấu đất bằng trời xa.
Thằng về vẫn lính đến già
Đứa nằm xuống mãi mãi là cỏ cây.
THƯỜNG DÂN
Đông thì chật, ít thì thưa
Chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân
Quanh năm chân đất đầu trần
Tác tao sau những vũ vần bão giông.
Khi làm cây mác cây chông
Khi thành biển cả, khi không là gì
Thấp cao đâu có làm chi
Cỏ ngàn năm vẫn xanh rì cỏ thôi.
Ăn của đất, uống của trời
Dốc lòng cởi dạ cho người mình tin
Ồn ào mà vẫn lặng im
Mặc ai mua bán nổi chìm thiệt hơn.
Chỉ mong ấm áo no cơm
Chắt chiu dành dụm thảo thơm ngọt lành.
Hòa vào trời đất mà xanh
Vô tư mấy kiếp mới thành thường dân.
LÀNG TÔI Ở CUỐI DÒNG SÔNG
Làng tôi ở phía dòng sông
Phù sa thì đỏ, cánh đồng thì xanh
Ngàn năm hương lúa ngọt lành
Gọi con cò trắng về thành ca dao.
Làng tôi ở phía trời cao
Bóng ai cày ruộng thành sao sáng lòa
Lung linh trong dải Ngân Hà
Cái bừa con vịt vẫn nhòa nhập trôi.
Làng tôi ở phía cuộc đời
Mặn mòi nước mắt mồ hôi người làng
Có người ở chốn giầu sang
Vẫn tìm về nhận họ hàng áo nâu.
Mai dù sông chảy về đâu
Đất làng tôi vẫn một màu phù sa.
Nguyễn Long
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)